Bordeaux

Một château bằng đá giữa những hàng nho ở Bordeaux
Château là đơn vị sản xuất vang quen thuộc ở Bordeaux.

Bordeaux là vùng vang ở tỉnh Gironde, tây nam nước Pháp, trải dọc cửa sông Gironde và hai con sông đổ vào nó là Garonne và Dordogne. Năm 2025 Gironde có 91.543 ha nho đang cho thu hoạch, trong đó 86.600 ha thuộc các tên gọi AOP, làm ra 2,9 triệu hl vang AOP, khoảng 83% là vang đỏ (Agreste). Vang đỏ Bordeaux gần như luôn là vang phối, lấy Merlot và Cabernet Sauvignon làm nền. Vùng còn có vang trắng khô Sauvignon Blanc phối Sémillon và vang ngọt Sauternes.

Khí hậu và thổ nhưỡng

Bordeaux có khí hậu ôn đới hải dương, mưa khá đều, mùa thu có thể ẩm. Dải rừng thông Landes ở phía tây chắn bớt gió Đại Tây Dương, còn sông và cửa sông điều hòa nhiệt độ. Thời tiết thay đổi nhiều giữa các năm nên niên vụ ở Bordeaux có ý nghĩa rõ hơn ở các vùng nắng ấm ổn định.

Người ta chia vùng theo hai bờ. Tả ngạn, gồm Médoc và Graves, có nhiều đất sỏi giữ ấm và thoát nước tốt, hợp với Cabernet Sauvignon chín muộn. Hữu ngạn, quanh Saint-Émilion và Pomerol, đất sét và đá vôi mát hơn, nên Merlot chiếm ưu thế. Vùng nằm giữa hai sông gọi là Entre-Deux-Mers, phần lớn làm vang trắng và vang AOC Bordeaux. Ở Sauternes và Barsac, sương mù từ sông Ciron vào mùa thu giúp nấm quý Botrytis cinerea phát triển, làm nho teo lại và cô đặc đường.

Chùm nho đỏ chín ở Bordeaux
Merlot và Cabernet Sauvignon là hai giống chủ lực của Bordeaux.

Tên gọi con

Hệ thống tên gọi Bordeaux xếp theo độ rộng. Cấp vùng gồm Bordeaux, Bordeaux Supérieur (năng suất thấp hơn, độ cồn tối thiểu cao hơn) và Crémant de Bordeaux. Cấp tiểu vùng gồm Médoc, Haut-Médoc, Graves, Côtes de Bordeaux và Entre-Deux-Mers. Hẹp nhất là các tên gọi làng: ở Médoc có Margaux, Pauillac, Saint-Julien, Saint-Estèphe, Listrac-Médoc và Moulis; ở Graves có Pessac-Léognan; ở hữu ngạn có Saint-Émilion, Saint-Émilion Grand Cru, Pomerol, Fronsac và Lalande-de-Pomerol. Vang ngọt có Sauternes, Barsac, Loupiac, Cadillac.

Giống nho

Theo CIVB (liên hiệp ngành vang Bordeaux), trong vườn nho đỏ Merlot chiếm 66%, Cabernet Sauvignon 21%, Cabernet Franc 8%, phần còn lại là Petit Verdot, Malbec và Carménère. Trong vườn nho trắng, Sauvignon Blanc chiếm 45%, Sémillon 42%, Muscadelle 5%. Từ năm 2021, AOC Bordeaux và Bordeaux Supérieur được trồng thử thêm vài giống chịu nóng như Marselan và Touriga Nacional, với tỉ lệ giới hạn, để thích nghi khí hậu.

Tả ngạn thường phối nhiều Cabernet Sauvignon, cho vang nhiều tannin, mùi lý chua đen, gỗ tuyết tùng, cần thời gian. Hữu ngạn nhiều Merlot, vang tròn và mềm hơn khi còn trẻ. Vang trắng khô Pessac-Léognan và Graves thường ủ thùng gỗ; Sauternes ngọt đậm, chua đủ để giữ được nhiều chục năm.

Phân hạng

Bordeaux không có một bảng xếp hạng chung mà có nhiều bảng riêng. Nổi tiếng nhất là phân hạng 1855, gồm 61 château vang đỏ chia năm hạng và 27 château vang ngọt Sauternes-Barsac, trong đó Château d'Yquem đứng riêng ở hạng Premier Cru Supérieur. Bảng này chỉ thay đổi hai lần: thêm Cantemerle năm 1856 và nâng Mouton Rothschild lên hạng nhất năm 1973.

Phân hạng Graves (bản cuối năm 1959) gồm 16 château. Phân hạng Saint-Émilion được xét lại khoảng mười năm một lần; bản 2022 có 14 Premier Grand Cru Classé (2 hạng A là Figeac và Pavie) và 71 Grand Cru Classé. Ausone, Cheval Blanc và Angélus tự rút khỏi bảng trước đợt 2022. Ở Médoc, Cru Bourgeois bản 2025 có 170 château (120 Cru Bourgeois, 36 Supérieur, 14 Exceptionnel), áp dụng cho các niên vụ 2023–2027. Pomerol, nơi có Pétrus, không có phân hạng nào.

Tên tuổi nổi tiếng

Năm château hạng nhất 1855 là Lafite Rothschild, Latour, Mouton Rothschild (Pauillac), Margaux (Margaux) và Haut-Brion (Pessac-Léognan). Hữu ngạn có Pétrus, Le Pin, Cheval Blanc, Ausone, Figeac. Ở mảng vang phổ thông, các nhà buôn (négociant) như Baron Philippe de Rothschild với nhãn Mouton Cadet, Barton & Guestier, Calvet, Dourthe làm vang AOC Bordeaux với số lượng lớn.

Cách đọc nhãn Bordeaux

Nhãn thường có tên château, tên gọi (ví dụ "Appellation Pauillac Contrôlée"), niên vụ và dòng "Mis en bouteille au château". Nếu château thuộc bảng 1855, nhãn có thể ghi "Grand Cru Classé en 1855". Cần phân biệt "Saint-Émilion Grand Cru", vốn chỉ là một tên gọi rộng, với "Grand Cru Classé" của bảng xếp hạng. Nhiều château lớn có vang thứ hai (second vin) từ cây trẻ hoặc lô chưa đạt, như Carruades de Lafite hay Pavillon Rouge du Château Margaux. Chữ "château" trên nhãn chỉ một cơ sở có vườn nho riêng, không nhất thiết có lâu đài.

Bordeaux ở Việt Nam

Trong khoảng 12.000 chai đang bán của một nhà nhập khẩu lớn có 1.012 chai vang Bordeaux: 816 vang đỏ, 155 vang trắng, 19 vang ngọt, 15 vang hồng, 7 vang sủi. Merlot có mặt trong 756 chai, Cabernet Sauvignon 550, Sauvignon Blanc 162. Khoảng 600 chai mang tên một château. Đếm theo tên gọi in trên nhãn, có khoảng 30 chai Saint-Émilion, 28 Margaux, 24 Pauillac, 22 Pomerol, 26 Pessac-Léognan và Graves, 13 Sauternes và Barsac. Cả năm château hạng nhất 1855 đều có mặt, cùng Pétrus, Cheval Blanc, Ausone và Yquem. Nhãn có nhiều mã nhất là Mouton Cadet (21).

Câu hỏi thường gặp

Vang Bordeaux tả ngạn và hữu ngạn khác nhau thế nào?

Tả ngạn (Médoc, Graves) nhiều Cabernet Sauvignon, vang chắc và chát hơn. Hữu ngạn (Saint-Émilion, Pomerol) nhiều Merlot, vang mềm và tròn hơn.

Bordeaux Supérieur có cao cấp hơn Bordeaux không?

Quy định chặt hơn một chút về năng suất và độ cồn, nhưng vẫn là tên gọi cấp vùng, thấp hơn các tên gọi làng như Margaux hay Pauillac.

Vang thứ hai của château có đáng tìm hiểu?

Có. Vang thứ hai làm cùng đội ngũ và cùng vườn với vang chính, thường uống được sớm hơn.

Pétrus có trong bảng 1855 không?

Không. Bảng 1855 chỉ xét Médoc, Haut-Brion và Sauternes-Barsac; Pomerol chưa bao giờ có phân hạng.

Ở Bordeaux, tên gọi cho biết vùng, còn tên château và phân hạng cho biết vị trí của chai vang trong vùng đó. Đọc cả ba thứ cùng niên vụ là đủ hình dung phần lớn phong cách trước khi mở nút.

Thuộc Bordeaux

Barsac
Blaye
Bordeaux
Bordeaux supérieur
Bourg
Cadillac
Canon Fronsac
Cérons
Côtes de Blaye
Côtes de Bordeaux
Côtes de Bordeaux-Saint-Macaire
Crémant de Bordeaux
Entre-deux-Mers
Fronsac
Graves
Graves de Vayres
Graves supérieures
Haut-Médoc
Lalande-de-Pomerol
Listrac-Médoc
Loupiac
Lussac Saint-Emilion
Margaux
Médoc
Montagne-Saint-Emilion
Moulis
Pauillac
Pessac-Léognan
Pomerol
Premières Côtes de Bordeaux
Puisseguin Saint-Emilion
Saint-Émilion
Saint-Émilion Grand Cru
Saint-Estèphe
Saint-Georges-Saint-Emilion
Saint-Julien
Sainte-Croix-du-Mont
Sainte-Foy-Bordeaux
Sauternes